{"title":"PHẪU THUẬT CHIA SẺ TÁI TẠO VÚ VÀ GIẢI PHẪU MẠCH MÁU CỦA VẠT VÚ","authors":"Mạnh Ninh Hoàng","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9565","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9565","url":null,"abstract":"Bệnh nhân ung thư vú sau khi cắt bỏ một bên vú có thể tái tạo vú bằng túi độn hoặc vạt tự thân. Một trong các vạt tự thân được sử dụng là vạt vú đối bên (kỹ thuật chia sẻ vú). Kỹ thuật này thường thực hiện ở những phụ nữ có phì đại vú còn lại. Vạt vú bên còn lại được chuyển dựa trên giải phẫu các cuống mạch nuôi. Đa số các báo cáo, các tác giả sử dụng vạt với mạch xuyên từ động mạch vú trong. Tuy nhiên, mạch máu cung cấp cho các vạt vú còn nhiều biến thể. Cần thăm khám bằng hình ảnh để xác định mạch máu của vạt chuyển trước phẫu thuật. Kỹ thuật chia sẻ vú thường được dùng cho những trường hợp bệnh nhân có vú phì đại, không khuyến cáo cho nhũng bệnh nhân có đột biến gen ung thư vú do nguy cơ cao mắc ung thư của vú đối bên.","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"128 37","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140977423","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA AFATINIB TRONG ĐIỀU TRỊ BƯỚC MỘT UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN MUỘN CÓ ĐỘT BIẾN EGFR TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI","authors":"Đình Anh Trần, Ái Linh Nguyễn","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9566","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9566","url":null,"abstract":"Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị afatinib trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn muộn có đột biến EGFR tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 34 bệnh nhân UTPKTBN di căn có đột biến EGFR đã được điều trị afatinib tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 01/2018 đến tháng 6/2021. Kết quả: Tỷ lệ đột biến Del19 và L585R lần lượt là 44,1% và 20,6%; giai đoạn IVB chiếm tỷ lệ cao nhất (70%), có 1 bệnh nhân được chẩn đoán tái phát. Tại thời điểm sau 8-12 tuần, tỷ lệ đáp ứng toàn bộ đạt 76,5%, bệnh giữ nguyên chiếm 20,6% và 2,9% bệnh tiến triển. Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS) đạt 12,0 ± 3,1 tháng (5,9-18,0 tháng). Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi được phân tích với các yếu tố liên quan như tình trạng đột biến gen, liều khởi đầu, liều điều chỉnh và liều tối ưu của afatinib. Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là ban mụn (35,3%), viêm móng (35,3%) và tiêu chảy (32,4%). Kết luận: Điều trị bước 1 bằng afatinib cho thấy hiệu quả tốt trên các bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến triển (IIIC,IV) có đột biến EGFR, giúp kéo dài thời gian sống thêm bệnh không tiến triển, tăng tỷ lệ đáp ứng hơn nữa tác dụng không mong muốn có thể được quản lý tốt.","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"31 4","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140975682","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"SO SÁNH KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NỐI GÂN ACHILLES BẰNG KỸ THUẬT NỐI GÂN VỚI ĐƯỜNG MỔ THÔNG THƯỜNG VÀ ĐƯỜNG MỔ NHỎ","authors":"Văn Lượng Nguyễn, Năng Giỏi Nguyễn","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9617","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9617","url":null,"abstract":"Mục tiêu: So sánh kết quả điều trị phẫu thuật bệnh nhân đứt ngầm hoàn toàn gân Achilles do chấn thương bằng kỹ thuật nối gân với đường mổ thông thường và nối gân với đường mổ nhỏ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu, có nhóm chứng trên 60 bệnh nhân trưởng thành được chẩn đoán xác định đứt ngầm hoàn toàn gân Achilles do chấn thương, được điều trị bằng phẫu thuật tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong thời gian từ tháng 1/2017 đến tháng 8/2022, được chia thành 2 nhóm: 30 BN được nối gân gót với đường mổ thông thường, 30 BN được nối gân gót với đường mổ nhỏ. Kết quả về chức năng và biến chứng của 2 nhóm được so sánh với nhau. Kết quả: Sau mổ nối gân Achilles 1 năm, điểm ATRS, biên độ gấp gan và gấp mu của cổ chân, tỷ lệ đứt lại gân Achilles không có sự khác biệt ở 2 nhóm với P>0,05. Tuy nhiên, bệnh nhân được nối gân Achilles với đường mổ nhỏ có thời gian nằm viện ngắn hơn, có thể kiễng chân trên chân bệnh và quay trở lại làm việc sớm hơn, tỷ lệ biến chứng liên quan vết mổ thấp hơn, sẹo mổ thẩm mỹ hơn so với nhóm bệnh nhân được nối với đường mổ thông thường với P<0,05. Kết luận: Kết quả phục hồi chức năng ở 2 nhóm sau mổ 1 năm không có sự khác biệt. Tuy nhiên, nối gân Achilles với đường mổ nhỏ đã giảm thiểu biến chứng nhiễm khuẩn; thời gian nằm viện ngắn hơn và sớm quay lại công việc cũ hơn, sẹo mổ thẩm mỹ hơn so với mổ nối gân Achilles bằng đường mổ thông thường","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"38 4","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140972929","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Minh Nam Nguyễn, Tuấn Anh Đỗ, Vũ Trung Nguyễn, Minh Hải Nguyễn, Thị Thu Hiền Đinh, Văn Tổng Hoàng
{"title":"MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI TUỔI Ở NGƯỜI BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE","authors":"Minh Nam Nguyễn, Tuấn Anh Đỗ, Vũ Trung Nguyễn, Minh Hải Nguyễn, Thị Thu Hiền Đinh, Văn Tổng Hoàng","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9603","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9603","url":null,"abstract":"Mục tiêu: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm, mối liên quan với tuổi ở người bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả, cắt ngang trên 309 người bệnh (NB) SXHD được điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 – Học viện Quân y từ năm 2020 đến 2023. Kết quả: Nhóm SXHD có dấu hiệu cảnh báo (SXHD CB) có tuổi trung bình (45,26±16,6 tuổi), tỷ lệ xuất huyết (37,7%), chỉ số HCT (0,44±0,06L/L); xét nghiệm AST (149,9±102,9 U/L); ALT (88,8±66,97U/L), tỷ lệ anti-DENV IgG dương tính (82,4%) cao hơn nhóm SXHD, trong khi xét nghiệm tiểu cầu có giá trị thấp hơn (28,6±29 G/L). SXHD CB thường gặp ở nhóm tuổi >30. Ở bệnh nhân SXHD, nhóm tuổi >30 có xét nghiệm HCT, tiểu cầu thấp hơn, tỷ lệ xét nghiệm anti-DENV IgG dương tính cao hơn so với nhóm ≤30 tuổi. Kết luận: Các xét nghiệm HCT, tiểu cầu, anti DENV-IgG có liên quan tới mức độ nặng cũng như tuổi ở bệnh nhân SXHD.","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"71 1","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140973599","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN THIẾU MÁU THIẾU SẮT TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI PHÒNG","authors":"Thị Thảo Vũ, Ngọc Hòa Trần, Thị Hương Liễu Nguyễn","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9648","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9648","url":null,"abstract":"Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị trẻ bị thiếu máu thiếu sắt tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2022. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Ngiên cứu mô tả tiến cứu 146 trẻ được chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt và điều trị tại bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2022. Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình 3,8±4,2 tuổi, nhóm trẻ dưới 5 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 71,2%; trẻ đẻ non/nhẹ cân có nguy cơ cao bị thiếu máu thiếu sắt OR = 1,3. Có 78,8% trẻ thiếu máu mức độ nhẹ, 21,2 % thiếu máu trung bình. Sau 4 tháng điều trị bổ sung sắt đường uống tình trạng thiếu máu và các triệu chứng của trẻ được cải thiện rõ rệt, có 31,5% trẻ hết thiếu máu. Tác dụng không mong muốn ít gặp. Kết luận: Điều trị thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em bằng bổ sung sắt đường uống có hiệu quả tốt, ít tác dụng phụ","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"37 3","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140974332","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Anh Đức Huỳnh, Thị Diễm Nguyễn, Diệu Hiền Trần, Đức Thịnh Võ
{"title":"NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA SỰ THAY ĐỔI QTC VÀ TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TIM Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ HOÁ TRỊ BẰNG ANTHRACYCLINE","authors":"Anh Đức Huỳnh, Thị Diễm Nguyễn, Diệu Hiền Trần, Đức Thịnh Võ","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9621","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9621","url":null,"abstract":"Đặt vấn đề: Nhiều nghiên cứu đã chứng minh có sự liên quan giữa rối loạn chức năng tim với sự kéo dài đoạn QTc khi điều trị ung thư với Anthracycline. Tuy nhiên, ở Việt Nam dữ liệu về vấn đề trên còn khá hạn chế. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và khảo sát mối tương quan giữa QTc và rối loạn chức năng tim ở bệnh nhân ung thư sau hoá trị bằng Anthracycline 1 tháng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 36 bệnh nhân hoá trị liệu với Anthracycline tại Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ và Bệnh Viện Ung Bướu Thành Phố Cần Thơ năm 2023. Kết quả: Tỷ lệ khó thở, ho khan, đau đầu, chán ăn, rụng tóc sau 1 tháng điều trị Anthracycline lần lượt là 36,1%, 30,6%, 47,2%, 55,6%, 58,3% so với trước điều trị tương ứng là 16,7%, 13,9%, 8,3%, 30,6% và 5,6% (p<0,05). Tương tự, chỉ số xét nghiệm sau điều trị 1 tháng so với trước điều trị gồm hồng cầu (4,4±0,4 vs. 4,5±0,4), hemoglobin (12,3±1,4 vs. 12,9±1,3) (p<0,05), tiểu cầu (426,1±143,1 vs. 343,6±103,3) (p<0,001) và creatinin (66,8±16,7 vs. 62,1±20,6 (p<0,05). Có 10 đối tượng có tình trạng rối loạn chức năng tim sau 1 tháng điều trị (chiếm 27,8%). Khoảng QTc sau điều trị Anthracycline 1 tháng tăng so với trước điều trị ở cả hai nhóm có và không có RLCNT, nhưng sự khác biệt giá trị QTc trước và sau điều trị không có ý nghĩa thống kê ở cả hai nhóm có và không có RLCNT. Kết luận: Các triệu chứng sau 1 tháng hóa trị bằng Anthracycline (rụng tóc, chán ăn, đau đầu, giảm hồng cầu, tăng tiểu cầu và tăng creatinin) phổ biến hơn so với trước điều trị. Khoảng QTc sau điều trị Anthracycline 1 tháng tăng ở cả hai nhóm có và không có RLCNT, nhưng không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về giá trị QTc trước và sau điều trị ở cả hai nhóm này","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"81 12","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140976027","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"KẾT QUẢ GẠN TÁCH KHỐI BẠCH CẦU HẠT TẠI VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TW GIAI ĐOẠN 2017-2023","authors":"Ngọc Quế Trần, Xuân Thịnh Lê, Bảo Khánh Nguyễn","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9595","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9595","url":null,"abstract":"Đặt vấn đề: Giảm bạch cầu hạt ở bệnh nhân điều trị hóa chất, ghép tế bào gốc có nguy cơ tử vong cao. Truyền khối bạch cầu hạt giúp bệnh cải thiện tình trạng nhiễm trùng. Mục tiêu: Mô tả kết quả gạn tách khối bạch cầu hạt tại Ngân hàng Tế bào gốc, Viện Huyết học - Truyền máu TW giai đoạn 2017-2023. Đối tượng: 42 người hiến trải qua 68 lượt gạn tách khối bạch cầu hạt. Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, lựa chọn người hiến, huy động với phác đồ kết hợp G-CSF và Dexamethasone, sau đó gạn tách, đánh giá và truyền cho bệnh nhân. Kết quả: 42 người hiến sau gạn thu được 68 khối bạch cầu hạt với số lượng bạch cầu hạt trung bình/khối là (2,85 ± 1,75) x1010. Quá trình huy động và gạn tách đảm bảo an toàn, các triệu chứng không có tỷ lệ thấp, không ảnh hưởng đến sức khoẻ và các chỉ số máu của người hiến. Kết luận: quy trình gạn tách bạch cầu hạt hiệu quả và có thể ứng dụng rộng rãi.","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"126 46","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140977295","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Xuân Bách Nguyễn, Ngọc Bích Nguyễn, Hoàng Anh Đặng
{"title":"ĐÁNH GIÁ TÍNH GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐO SỰ KỲ THỊ TRẦM CẢM, RỐI LOẠN LO ÂU TRÊN GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG","authors":"Xuân Bách Nguyễn, Ngọc Bích Nguyễn, Hoàng Anh Đặng","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9588","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9588","url":null,"abstract":"Mục tiêu: nghiên cứu tiến hành nhằm đánh giá độ tin cậy và độ tin cậy kiểm định lại của thang đo sự kỳ thị vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT). Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 47 giáo viên trường trung học phổ thông (THPT) Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội từ tháng 4/2023 đến tháng 11/2023 sử dụng bộ công cụ được thích ứng từ bộ công cụ của tác giả Jorm (1997). Khảo sát được tiến hành 2 lần cách nhau 15 ngày. Kết quả: nhóm giáo viên trong nghiên cứu đa phần nà nữ giới, dân tộc kinh, trình độ trên đại học và tập trung ở các quận của Hà Nội, đã kết hôn, làm chủ nhiệm lớp chiếm đa số. Kết quả đánh giá độ tin cậy của cả thang đo và của mỗi tiểu mục đều đạt với Cronbach’s alpha của thang đo từ 0,845 đến 0,943, Cronbach’s alpha của từng tiểu mục từ 0,772 đến 0,929, chỉ số tương quan biến tổng đạt từ 0,431 đến 0,895. Kết quả đánh giá độ tin cậy kiểm định lại cho giá trị chỉ số tương quan nội lớp ICC từ 0,843 đến 0,880 thể hiện độ tin cậy tốt và rất tốt. Kết luận: thang đo sự kỳ thị sau đánh giá độ tin cậy cho thấy có tiềm năng được sử dụng để khảo sát sự kỳ thị với vấn đề SKTTvề trầm cảm và rối loạn lo âu trên giáo viên.","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"58 6","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140973733","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Thị Thuỳ Dương Nguyễn, Thu Hương Lê, Lê Ngọc Khanh Nguyễn, Hải Hà Trần
{"title":"NHẬN XÉT KẾT QUẢ NONG XƯƠNG HÀM TRÊN BẰNG KHÍ CỤ ỐC NONG NHANH TỰA TRÊN MINISCREW Ở NHÓM NGƯỜI BỆNH CÓ ĐƯỜNG KHỚP TRƯỞNG THÀNH","authors":"Thị Thuỳ Dương Nguyễn, Thu Hương Lê, Lê Ngọc Khanh Nguyễn, Hải Hà Trần","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9650","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9650","url":null,"abstract":"Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả nong xương hàm trên với khí cụ MARPE ở nhóm người bệnh Việt Nam có đường khớp xương trưởng thành. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng đánh giá kết quả trước-sau ở 24 trường hơp có hẹp hàm trên và đường khớp xương đã đóng (độ trưởng thành đốt sống cổ ở mức 5 hoặc 6), các biến số về độ rộng cung răng, độ rộng nền xương, độ rộng và dài đường khớp, độ nghiêng chân răng hàm được đo trên phim CBCT ở hai thời điểm trước và ngay sau khi nong hàm. Kết quả: độ rộng nền xương hàm trên sau khi nong tăng có ý nghĩa với sự tăng của độ rộng hàm trên ở mức tâm cản RHL thứ nhất là 4.31±1.31 mm (p < 0.000), đường khớp được tách suốt dọc chiều dài với sự tăng độ rộng đường khớp ở ba vị trí ngang răng cửa, ngang răng hàm nhỏ, ngang răng hàm lớn lần lượt là 3.15 ± 2.00, 2.58 ± 2.19, 2.57 ± 1.64 (p< 0.000). Đo trên cung răng, mức độ tăng trung bình độ rộng cung hàm trên ở ngang mức răng nanh, RHN thứ nhất, RHL thứ nhất và thứ hai lần lượt là 4.00, 5.61 và 6.10 và 4.71. Góc liên chân răng hàm nhỏ và hàm lớn thứ nhất sau khi nong tăng trung bình 8.93o và 11.25o (p< 0,05). Kết luận: Khí cụ MARPE có hiệu quả nong tách đường khớp giữa XHT ở người bệnh có đường khớp đã trưởng thành, hiệu quả nong rộng đến từ nong rộng nền xương và làm rộng cung răng.","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"62 18","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140975393","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Hồng Chương Nguyễn, Minh Chín Huỳnh, Thị Phượng Đặng, Quang Đức Lê, Nguyễn Đăng Khoa Lê
{"title":"ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TỔ TỰ QUẢN AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA CÁC BẾP ĂN TẬP THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2023","authors":"Hồng Chương Nguyễn, Minh Chín Huỳnh, Thị Phượng Đặng, Quang Đức Lê, Nguyễn Đăng Khoa Lê","doi":"10.51298/vmj.v538i3.9655","DOIUrl":"https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9655","url":null,"abstract":"Đặt vấn đề: Ngộ độc thực phẩm bếp ăn tập thể thường do nhiều nguyên nhân như điều kiện vệ sinh không đảm bảo, kiến thức, thực hành của người trực tiếp chế biến còn hạn chế, bản chất thực phẩm bị nhiễm các tác nhân vi sinh, nguyên liệu chưa đảm bảo an toàn…Trong đó, việc giám sát an toàn thực phẩm của tổ tự quản an toàn thực phẩm (gọi tắt tổ tự quản) là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề đảm bảo an toàn thực phẩm của bếp ăn tập thể. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hoạt động tổ tự quản an toàn thực phẩm các bếp ăn tập thể trên địa bàn huyện Dầu Tiếng năm 2023” để đưa ra giải pháp kiểm soát tốt vấn đề an toàn thực phẩm tại các bếp ăn tập thể. Mục tiêu: Xác định kết quả hoạt động của Tổ tự quản liên quan đến tình hình an toàn thực phẩm ở các bếp ăn tập thể trong trường học, doanh nghiệp tại huyện Dầu Tiếng năm 2023 và các yếu tố liên quan nhằm đề ra giải pháp ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, khảo sát toàn bộ thành viên tổ tự quản của 38 bếp ăn tập thể của trường học, doanh nghiệp trên địa bàn huyện Dầu Tiếng: gồm 36 trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và 02 doanh nghiệp. Thời gian nghiên cứu từ tháng 9 – tháng 11 năm 2023. Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel. Kết quả: 68,2% người tham gia tổ tự quản có kiến thức đúng về quy định an toàn thực phẩm đối với bếp ăn tập thể; Trên 80% người tham gia tổ tự quản có nhận thức và thực hiện đúng theo quy định hoạt động của tổ tự quản; 99,5% tổ tự quản của trường học, doanh nghiệp thực hiện đầy đủ hồ sơ hoạt động của tổ tự quản; 55,7% người tham gia tổ tự quản là nhân viên hành chính hành chính có độ tuổi 25-35 tuổi với trình độ đại học/sau đại học và thâm niên công tác từ 5 năm trở lên có kiến thức đúng về an toàn thực phẩm và nhận thức, thực hành đúng hoạt động tổ tự quản.Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết của tổ tự quản an toàn thực phẩm và vai trò quan trọng của công việc kiểm tra, giám sát thường xuyên nhằm góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm trong bếp ăn tập thể.","PeriodicalId":22277,"journal":{"name":"Tạp chí Y học Việt Nam","volume":"32 5","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-05-15","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140975670","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}