{"title":"Nghiên cứu đánh giá hoạt động của thiết bị giám sát tàu cá ở khu vực Miền Trung","authors":"Tô Văn Phương, Vũ Kế Nghiệp, Nguyễn Trọng Lương","doi":"10.53818/jfst.01.2021.290","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.01.2021.290","url":null,"abstract":" Trong phạm vi bài báo này, chúng tôi trình bày một phần kết quả nghiên cứu đánh giá hoạt động các thiết bị giám sát tàu cá (VMS) lắp đặt trên ở khu vực Miền Trung trong 2 chuyến biển. Kết quả nghiên cứu cho thấy: i) các thiết bị VMS VMS Thuraya SF2500, Vifish.18 và BA-SAT01 được lắp đặt tương ứng trên các tàu cá ở Bình Định, Khánh Hòa và Quảng Nam có tính năng đáp ứng yêu cầu của quy định của Nhà nước; ii) mức độ truyền nhận tín hiệu vị trí tàu thể hiện Thuraya SF2500 đạt cao nhất là 141%, Vifish.18 đạt cao nhất là 152% trong khi BA-SAT01 vượt tới hơn 8 lần so với quy định tối thiểu; iii) Khoảng T lâu nhất của Thuraya SF2500 lên đến 13h38’ và Vifish.18 là 8h38’, trong khi đó BA-SAT01 không có khoảng T. Ngoài ra, các VMS đáp ứng tốt về lưu vết tàu cá, ngôn ngữ trên phần mềm là tiếng Việt giúp ngư dân sử dụng dễ dàng, mức độ tiêu hao điện năng thấp; giá thành sản phẩm khoảng 20 triệu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, quy trình quản lý và phân quyền trong sử dụng dữ liệu trên VMS là rất quan trọng. \u0000Từ khóa: VMS, Hệ thống giám sát tàu cá, Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Nam","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":"25 36","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-02-26","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140429975","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Phạm Đức Hùng, Nguyễn Thị Hà Trinh, Hoàng Thị Thanh
{"title":"Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và khả năng chịu sốc của cá bè vẫu (Caranx ignobilis) giai đoạn cá giống","authors":"Phạm Đức Hùng, Nguyễn Thị Hà Trinh, Hoàng Thị Thanh","doi":"10.53818/jfst.01.2021.286","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.01.2021.286","url":null,"abstract":" Một thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá bè vẫu. Cá hương (trung bình 2,4 cm và 0,44g/con) được bố trí ngẫu nhiên vào trong 16 bể composite (300 L/bể) với 4 mật độ ương gồm 0,5; 1; 1,5 và 2,0 con/L. Cá được cho ăn thức ăn tổng hợp NRD5/8 và NRD G8 (INVE, Thailand) 4 lần/ngày theo nhu cầu trong 30 ngày. Kết quả cho thấy khối lượng cuối và tốc độ tăng trưởng đặc trưng giảm có ý nghĩa khi tăng mật độ ương lên trên 1,0 con/L. Cá bè vẫu đạt sinh trưởng tốt nhất khi ương ở mật độ 0,5 đến 1,0 con/L. Tăng mật độ ương từ 0,5 lên 2 con/L không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá. Hệ số chuyển hóa thức ăn giảm dần khi tăng mật độ ương, thấp nhất ở nghiệm thức ương với mật độ 2 con/L. Cá bè vẫu ương ở mật độ 0,5 và 1,0 con/L thể hiện khả năng chịu sốc với sự thay đổi của nhiệt độ tốt hơn so với cá ương ở các mật độ cao. Tuy nhiên không có sự khác biệt về khả năng chịu sốc độ mặn của cá ương ở các mật độ khác nhau. Như vậy, mật độ phù hợp trong ương cá bè vẫu giai đoạn cá hương lên cá giống là 1,0 con/L để tối ưu tốc độ sinh trưởng và khả năng chịu sốc của cá. \u0000Từ khóa: Caranx ignobilis, mật độ, cá bè vẫu, sinh trưởng.","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":"17 24","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-02-26","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140430242","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"Ảnh hưởng kết hợp giữa mật độ với chất đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu lụa (Paphia undulata Born, 1780) giai đoạn sống đáy tại Khánh Hòa","authors":"Vũ Trọng Đại, Ngô Anh Tuấn, Ngô Thị Thu Thảo","doi":"10.53818/jfst.02.2021.279","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.02.2021.279","url":null,"abstract":" Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng kết hợp giữa mật độ ương (2, 4, 6 và 8 con/cm2) với chất đáy (cát, cát bùn và không chất đáy) lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu lụa giai đoạn sống đáy tới nghêu giống tại Nha Trang, Khánh Hòa. Nghêu thí nghiệm (chiều dài trung bình 0,21 ± 0,012 mm) được ương trong các thùng xốp và cho ăn các loại tảo tươi Nannochloropsis oculata, Chlorella sp., Isochrysis galbana, thời gian thí nghiệm kéo dài 25 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy có ảnh hưởng đồng thời của hai yếu tố mật độ và chất đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu lụa (p<0,05). Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của nghêu đạt cao nhất (0,0832 ± 0,013 mm/ngày) ở nghiệm thức kết hợp giữa mật độ ương 2 con/cm2 với không chất đáy và tỷ lệ sống cao nhất (86,63 ± 2,06 %) ở nghiệm thức kết hợp giữa mật độ ương 4 con/cm2 với đáy cát bùn. Ở nghiệm thức kết hợp giữa mật độ ương cao (6 và 8 con/cm2) với đáy cát thì sinh trưởng và tỷ sống của nghêu lụa là thấp nhất. \u0000Từ khóa: chất đáy, mật độ, nghêu lụa, tỷ lệ sống, sinh trưởng","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":"153 S311","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-02-26","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140428529","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Nguyễn Minh Châu, Đào Văn Trí, Phan Thị Thương Huyền, Phạm Đức Hùng
{"title":"Đánh giá hiệu quả của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) bán thâm canh cải tiến tại Quảng Ngãi","authors":"Nguyễn Minh Châu, Đào Văn Trí, Phan Thị Thương Huyền, Phạm Đức Hùng","doi":"10.53818/jfst.01.2021.283","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.01.2021.283","url":null,"abstract":" Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng bán thâm canh (BTC) được thực hiện tại xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Mô hình gồm 3 ao TN với diện tích 2.000 m2/ao, tôm được ương 35 ngày trước khi thả nuôi thương phẩm, bổ sung men vi sinh định kỳ 5 ngày/lần trong suốt vụ nuôi, nước cấp được lắng và xử lý bằng chlorine trước khi cấp vào ao nuôi, thu hoạch nhiều đợt. Ba ao đối chứng (ĐC) với diện tích 2.000 m2/ ao, nuôi theo kiểu truyền thống: thả tôm giống trực tiếp trong ao thương phẩm; quản lý chất lượng nước chủ yếu dựa trên hóa chất và thuốc, có bổ sung thêm men vi sinh; nước cấp trực tiếp từ biển vào ao nuôi không qua lắng xử lý, không thu tỉa. Kết quả cho thấy các yếu tố môi trường trong các ao TN thường duy trì trong ngưỡng thích hợp cho tăng trưởng và phát triển của tôm, trong khi đó ở các ao đối chứng có sự biến động mạnh về hàm lượng oxy hòa tan, TAN và NO2-N. Thời gian nuôi tại các ao TN ngắn 65-75 ngày với kích cỡ thương phẩm 21,24 ± 1,41 g/con, cao hơn so với 19,41 ± 0,61 g/con đạt được tại các ao ĐC nuôi trong 98-110 ngày (P<0,05). Tỷ lệ sống, năng suất và lợi nhuận của các ao TN lần đạt 84,58 ± 4,46%, 13,42 ± 0,85 tấn/ha/vụ và 574,15 ± 147,69 triệu đồng/ha/vụ. Hiệu quả nuôi của các ao TN cao hơn so với các ao ĐC với tỷ lệ sống, năng suất và lợi nhuận lần lượt đạt 68,13 ± 18,81%, 10,42 ± 1,97 tấn/ha/vụ, và 306,29 ± 333,85 triệu đồng/ha/vụ, tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình nuôi bán thâm canh sử dụng giống đã qua giai đoạn ương, bổ sung men vi sinh định kỳ, và thu hoạch nhiều đợt có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả nuôi tôm. \u0000Từ khóa: Tôm thẻ chân trắng, bán thâm canh, men vi sinh, ương giống","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":"113 S142","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-02-26","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140428946","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"Tuyển chọn, nuôi thành thục và cho sinh sản tôm bác sĩ Lysmata amboinensis (De Man 1888)","authors":"Diệp Lục Minh, PhùngThế Trung","doi":"10.53818/jfst.02.2021.275","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.02.2021.275","url":null,"abstract":" Tôm bác sĩ bố mẹ được thu gom từ ngư dân lặn bắt tại các rạn san hô trong vịnh Nha Trang. Đàn tôm có tỷ lệ thành thục tự nhiên trung bình đạt 14,26%. Chiều dài toàn thân (TL) lớn nhất: 5,9 cm, trung bình: 4,48 cm, khối lượng thân (BW) lớn nhất: 3,0 g, trung bình: 1,46 g. Kích thước tôm thành thục sinh dục lần đầu với vai trò là cái: TL=4,27cm, tương ứng với BW=1,20g. Tỷ lệ sống của đàn tôm nuôi trong bể >77% sau 1 tháng nuôi, 60% sau 2 tháng nuôi. Tôm bác sĩ dễ dàng thành thục và sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt, tỷ lệ tôm sinh sản và ôm trứng có thể đạt 37% - 44% sau khoảng 1 tháng nuôi. Chúng có thể thành thục và đẻ trứng ở nhiệt độ thấp đến 20oC. Tôm bố mẹ thành thục tự nhiên có hiệu quả sinh sản tốt hơn tôm thành thục trong điều kiện nuôi nhốt, với sức sinh sản thực tế trung bình là 960 zoea1/g tôm mẹ so với 205 zoea1/g tôm mẹ . Tôm bác sĩ là loài lưỡng tính, thành thục đồng thời nhưng không thể tự thụ tinh. \u0000Từ khóa: Tôm bác sĩ, Lysmata amboinensis, bố mẹ , thành thục, sinh sản.","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":"16 20","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-02-26","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140430052","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"Khảo sát thành phần hoá học và sự hiện diện của vi sinh vật trên phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) cuối quá trình chế biến","authors":"Nguyễn Thị Kiều Diễm, Mai Thị Tuyết Nga","doi":"10.53818/jfst.01.2021.285","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.01.2021.285","url":null,"abstract":" Nghiên cứu nhằm khảo sát chất lượng của cá rô phi vằn sau quá trình phi lê và sau khi đông rời IQF, kết quả khảo sát cho thấy phi lê cá rô phi sau khi đông lạnh có hàm lượng lipid là 0,68% và hàm lượng acid béo tự do 4,87 g/100 g chất béo. Chỉ số acid thiobarbituric (TBARS) trong phi lê sau khi phi lê và đông lạnh thấp (lần lượt là 0,06 ± 0,004 và 0,11 ± 0,012 mg MDA/kg), đồng thời hàm lượng peroxide sau phi lê và sau quá trình đông lạnh đều dưới ngưỡng phát hiện. Hàm lượng tổng nitơ bazơ bay hơi (TVB-N) ban đầu của phi lê cá rô phi sau phi lê là 11,13 ± 0,74 và sau đông lạnh là 12,82 ± 1,22 mg N/100g thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng cho phép là 25 mg N/100 g. Lượng Pseudomonas spp., tổng số vi sinh vật hiếu khí (TVC), Clostridium perfringens, Coliforms và E.coli nằm trong giới hạn cho phép, không phát hiện sự có mặt của các vi sinh vật gây bệnh như: Samonella, Staphylococcus, Vibrio, Listeria. Kết quả định danh vi sinh vật trên phi lê cá rô phi cho thấy có sự hiện diện của các vi sinh vật gây hư hỏng đặc trưng Pseudomonas lundensis và Pseudomonas fragi. \u0000Từ khóa: Lạnh đông, cá rô phi, phi lê, Pseudomonas spp., chỉ số peroxide, thành phần hoá học cơ bản","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":"34 21","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-02-26","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140429776","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Sỹ Nguyễn Tấn, Mạnh Ngô Văn, Diệp Lục Minh, Út Phan Văn, Đại Vũ Trọng
{"title":"Hiện trạng nghề nuôi cá bớp (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766) thương phẩm tại Kiên Giang","authors":"Sỹ Nguyễn Tấn, Mạnh Ngô Văn, Diệp Lục Minh, Út Phan Văn, Đại Vũ Trọng","doi":"10.53818/jfst.02.2021.274","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.02.2021.274","url":null,"abstract":" Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng nghề nuôi cá bớp thương phẩm tại tỉnh Kiên Giang làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển hiệu quả, bền vững. Nghiên cứu được thực hiện trên 90/639 hộ nuôi bớp được thu ngẫu nhiên tại 3 huyện Kiên Hải, Kiên Lương và Phú Quốc. Kết quả cho thấy Kiên Giang có tiềm năng lớn để phát triển nghề nuôi cá bớp lồng bè. Cá được nuôi trong hệ thống lồng nổi, thể tích từ 52 - 64 m3/lồng. Đa số người nuôi sử dụng con giống nhân tạo (60 - 70%), mật độ thả nuôi 5 - 40 con/m3 tùy giai đoạn. Cá được cho ăn hầu hết là cá tạp (92 - 94%) với khẩu phần 3 - 12%BW (khối lượng thân). Hệ số FCR từ 8,0 - 9,8. Sau 12 - 16 tháng, cá đạt cỡ 4,5 - 7,5 kg/con, tỷ lệ sống 65 - 75%. Việc quản lý môi trường và phòng trị bệnh vẫn chưa được chú trọng do nhiều nguyên nhân. Cá được tiêu thụ chủ yếu tại địa phương và một phần tại các thành phố lân cận. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích SWOT về hiện trạng nghề nuôi cá bớp và đề xuất 5 nhóm giải pháp liên quan đến khoa học công nghệ, thị trường, quy hoạch/chính sách, quản lý môi trường và bệnh, và đào tạo khuyến ngư nhằm phát triển bền vững nghề nuôi cá bớp tại Kiên Giang. \u0000Từ khóa: cá bớp, Rachycentron canadum, hiện trạng kỹ thuật, Kiên Giang.","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":"216 S691","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-02-26","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140428207","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
Lê Như Chính, Nguyễn Văn Phúc, Huỳnh Văn Thạo, Nguyễn Nguyên An
{"title":"Nghiên cứu chế tạo máy sấy bằng bơm nhiệt kết hợp bức xạ hồng ngoại để sấy nông sản và thủy sản","authors":"Lê Như Chính, Nguyễn Văn Phúc, Huỳnh Văn Thạo, Nguyễn Nguyên An","doi":"10.53818/jfst.01.2021.284","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.01.2021.284","url":null,"abstract":" Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu chế tạo máy sấy bằng bơm nhiệt kết hợp với bức xạ hồng ngoại năng suất 5 kg/mẻ. Theo đó, các thông số kỹ thuật chính của máy sấy đã được thiết kế: phòng sấy (dài × rộng × cao) = 700 × 740 × 1200 mm; công suất của máy nén Ns = 745W; diện tích trao đổi nhiệt của dàn ngưng tụ trong F = 5,815 m2; diện tích trao đổi nhiệt của dàn bay hơi đạt 3,406 m2; ống mao có đường kính 2 mm với chiều dài 1500 mm; độ ẩm tương đối của không khí sấy φkk = 15 ÷ 17%. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sấy tôm thẻ và lát bơ với thời gian sấy khoảng 2,73 giờ cho chất lượng tốt nhất và năng suất sấy cao nhất. \u0000Từ khóa: Sấy bằng bơm nhiệt kết hợp bức xạ hồng ngoại, sấy bơ, sấy tôm","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":"205 S624","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2024-02-26","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"140428278","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"Nghiên cứu ứng dụng bơm nhiệt để sưởi ấm cho bể nuôi tôm hùm thương phẩm trên cạn","authors":"Trần Đại Tiến, Lê Như Chính, Huỳnh Văn Thạo","doi":"10.53818/jfst.01.2020.338","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.01.2020.338","url":null,"abstract":" Tôm hùm thương phẩm là mặt hàng thủy sản có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên trong thời gian gần đây việc nuôi tôm hùm thương phẩm trên biển gặp nhiều khó khăn và trở ngại. Do đó Việt Nam đang triển khai nuôi tôm hùm thương phẩm trên cạn. Thực tế cho thấy nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng tốt trong khoảng 27 đến 28ºC cho nên mùa nóng cần làm lạnh và mùa lạnh lại cần phải làm ấm nước biển cho bể nuôi. Bài viết sau đây giới thiệu chọn phương án thiết kế, chế tạo hệ thống bơm nhiệt điều hòa nhiệt độ cho bể nuôi tôm hùm thương phẩm trên cạn. Kết quả cho thấy với tổng thể tích các bể nuôi là 195 m³, máy nén lạnh cho bơm nhiệt cần công suất 7,5 kW, dàn nóng dạng ống xoắn có diện tích bề mặt trao đổi nhiệt 3,6 m² được chế tạo từ thép Inox-316L. Thời gian để máy chạy nâng nhiệt từ 20ºC đến 28ºC hết gần 48h, thời gian chạy máy để duy trì nhiệt độ nước biển trong bể từ 27ºC đến 28ºC hết 4,55h cho một ngày đêm, tiêu hao năng lượng 0,168 kWh/m³ nước giảm 5,2 lần so với sưởi ấm bằng điện trở. Thời gian thường sưởi ấm cho tôm khoảng 2 tháng trong một năm, kinh phí sẽ tiết kiệm được gần 16,5 triệu đồng và thời gian thu hồi vốn 2,6 năm so với sưởi ấm cho tôm bằng điện trở. \u0000Từ khóa: Bơm nhiệt, Dàn ngưng tụ, nhiệt độ nước biển, sưởi ấm, tôm hùm.","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":" 1","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2020-03-30","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"141220010","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}
{"title":"Lựa chọn các thông số kiểm tra an toàn kỹ thuật máy chính tàu cá","authors":"Phùng Minh Lộc, Phạm Trọng Hợp","doi":"10.53818/jfst.01.2020.343","DOIUrl":"https://doi.org/10.53818/jfst.01.2020.343","url":null,"abstract":" Máy chính tàu cá hầu hết là động cơ diesel 4 kỳ, trung-cao tốc. Bài báo này trình bày các thông số kiểm tra, chẩn đoán trạng thái kỹ thuật động cơ diesel; Từ đó phân tích chọn các thông số phù hợp để kiểm tra an toàn kỹ thuật phục vụ đăng kiểm máy chính tàu cá Việt Nam. \u0000Từ khóa: Máy chính tàu cá, chẩn đoán trạng thái kỹ thuật động cơ diesel, thông số kiểm tra an toàn kỹ thuật.","PeriodicalId":515540,"journal":{"name":"Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang","volume":" 17","pages":""},"PeriodicalIF":0.0,"publicationDate":"2020-03-30","publicationTypes":"Journal Article","fieldsOfStudy":null,"isOpenAccess":false,"openAccessPdf":"","citationCount":null,"resultStr":null,"platform":"Semanticscholar","paperid":"141220040","PeriodicalName":null,"FirstCategoryId":null,"ListUrlMain":null,"RegionNum":0,"RegionCategory":"","ArticlePicture":[],"TitleCN":null,"AbstractTextCN":null,"PMCID":"","EPubDate":null,"PubModel":null,"JCR":null,"JCRName":null,"Score":null,"Total":0}